Bản chất của tích lũy tư bản

  -  

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu tích lũy tư bản là gì, cùng một số nội dung khác như: bản chất của tích lũy tư bản và quy luật tích lũy tư bản.

Bạn đang xem: Bản chất của tích lũy tư bản

*
Tích lũy tư bản là gì? Một số lý luận về tích lũy tư bản

1. Tích lũy tư bản là gì?

1.1. Khái niệm tư bản

Các nhà kinh tế học thường nói rằng, mọi công cụ lao động, mọi tư liệu sản xuất đều là tư bản. Định nghĩa như vậy nhằm mục đích che dấu thực chất việc nhà tư bản bóc lột công nhân làm thuê, tư bản tồn tại vĩnh viễn, không thay đổi của hết thảy mọi hình thái xã hội.

Thực ra bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó chỉ là điều kiện cần thiết của sản xuất trong bất cứ xã hội nào. Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của nhà tư bản, và được dùng để bóc lột lao động làm thuê. Khi chế độ tư bản bị xoá bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư bản nữa. Như vậy, tư bản không phải là một quan hệ sản xuất xã hội nhất định giữa người và người trong quá trình sản xuất, nó có tính lịch sử.

Qua nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư ta có thể định nghĩa: “Tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê”. Tư bản thể hiện quan hệ sản xuất giữa giai cấp tư sản và vô sản trong đó các nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột công nhân làm thuê -người tạo ra giá trị thặng dư cho họ. Quan hệ sản xuất này cũng giống các quan hệ sản xuất khác của xã hội tư bản đã bị vật hoá.

1.2. Tích lũy tư bản là gì?

Tích luỹ tư bản là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (tư bản mới).

Muốn mở rộng sản xuất nhà tư bản không thể tiêu dùng hết giá trị thặng dư mà chia thành 2 phần :một phần tích luỹ để mở rộng sản xuất, một phần để tiêu dùng cá nhân và gia đình nhà tư bản.

Ta sẽ làm sáng tỏ hơn về khái niệm tích luỹ sau khi đi nghiên cứu các vấn đề sau.

2. Bản chất của tích lũy tư bản

2.1. Tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng

Dù hình thái xã hội của quá trình sản xuất là như thế nào đi nữa, thì bao giờ đó cũng phải có tính chất liên tục hay cứ từng chu kì một, phải không ngừng trải qua cùng những giai đoạn ấy. Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, thì xã hội cũng không thể ngừng sản xuất. Vì vậy xét trong mối liên hệ không ngừng và trong tiến trình không ngừng của nó, mọi quá trình sản xuất xã hội đồng thời cũng là quá trình tái sản xuất.

Xem thêm: Nghề Seo Là Gì ? Định Hướng Cho Người Mới "Học Nghề Định Hướng Cho Người Mới Học Nghề

Nhưng điều kiện của sản xuất đồng thời cũng là những điều kiện của tái sản xuất. Không một xã hội nào có thể sản xuất không ngừng tức là tái sản xuất, mà lại không liên tục chuyển hoá lại một phần sản phẩm nhát đinh của nó thành tư liệu sản xuất, hay thành những yếu tố của quá trình sản xuất mới. Nếu sản xuất mang hình thái TBCN thì tái sản xuất cũng mang hình thái đó. Quá trình lao động trong phương thức sản xuất TBCN chỉ là một phương tiện cho quá trình tăng thêm giá trị, thì tái sản xuất cũng vậy nó cũng chỉ là một phương tiện để tái sản ra giá trị ứng trước với tư cách là tư bản , tức là với tư cách là giá trị tự tăng thêm giá trị. Một người nào đó sở dĩ mang cái mặt lạ kinh tế đặc trưng của nhà tư bản thì đó chỉ là vì tiền của anh ta không ngừng hoạt động với tư cách là tư bản. Và giá trị thặng dư anh ta thu được mang hình thức một thu nhập do tư bản đẻ ra. Nếu như thu nhập đó chỉ được dùng làm quỹ tiêu dùng cho nhà tư bản, hay nếu như nó cũng được tiêu dùng theo từng chu kỳ giống như người ta đã kiếm được nó thì trong những điều kiện khác không thay đổi, sẽ chỉ diễn ra có tái sản xuất giản đơn thôi.

Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại không ngừng với quy mô năm sau lớn hơn năm trước. Muốn tái sản xuất mở rộng nhà tư bản phải mua thêm tư liệu sản xuất, thuê thêm công nhân do đó giá trị thặng dư tích lũy được phải chia làm hai phần: Một phần để thuê thêm công nhân, một phần để mua thêm tư liệu sản xuất.

Tái sản xuất giản đơn không phải là hình thái điển hình của CNTB. Hình thức tiến hành của CNTB là tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất ra của cải vật chất, quan hệ sản xuất, sức lao động của con người, môi trường sống của con người.

2.2. Tích luỹ tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng (tư bản hóa giá trị thặng dư)

Thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản hoá giá trị thặng dư. Xét một cách cụ thể, tích luỹ tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng.

Ở đây chúng ta không xét giá trị thặng dư và tương ứng với nó là sản phẩm thặng dư, chỉ với tư cách là quỹ tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản mà chúng ta xét nó với tư cách là quỹ tích luỹ. Thật ra giá trị thặng dư không phải là quỹ tiêu dùng và cũng không phải chỉ là quỹ tích lũy, mà là cả hai. Một phần giá trị thặng dư được nhà tư bản tiêu dùng với tư cách là thu nhập còn phần khác thì được nhà tư bản dùng làm tư bản, hay được tích luỹ lại.

Muốn tích lũy, cần phải biến một phần sản phẩm thặng dư thành tư bản. Nhưng nếu không phải là có phép lạ thì người ta chỉ có thể biến thành tư bản những vật nào dùng được vào quá trình lao động tức là những tư liệu sản xuất, và sau đó là những vật phẩm có thể nuôi sống công nhân, tức là những tư liệu sinh hoạt. Do đó, một phần lao động thặng dư hàng năm phải dùng để sản xuất thêm một số tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt ngoài số cần thiết để hoàn lại tư bản đã ứng ra. Nói tóm lại, sở dĩ giá trị thặng dư có thể biến thành tư bản là chỉ vì sản phẩm thặng dư – mà giá trị của nó là giá trị thặng dư-đã bao gồm các yếu tố vật thể của một tư bản mới rồi.

Xem thêm: Công Ty Dell Nổi Tiếng Trên Toàn Cầu Hiện Nay? Dell Technologies

Nghiên cứu tích luỹ và tái sản xuất mở rộng tư bản ta có thể rút ra hai kết luận vạnh rõ hơn bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:

+ Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư và tư bản tích lũy chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản. C.MAC nói rằng: tư bản ứng trước chỉ là giọt nước trong dòng sông tích luỹ mà thôi

+ Quá trình tích luỹ đã làm cho quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Việc trao đổi giữa người lao động và nhà tư bản dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm một phần lao động của người công nhân, mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động không công đó. Như vậy đã có sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở hữu. Nhưng sự vi phạm đó không vi phạm quy luật giá trị.